Tập hợp những thông tin, hình ảnh và các bài viết về quê hương, con người xứ Nghệ để lưu giữ, giới thiệu và cùng trân trọng, tự hào về tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ còn được gọi là văn hóa Lam Hồng.
Tìm kiếm Blog này
Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015
Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015
KỲ CÔNG DỊCH “TRUYỆN KIỀU” SANG TIẾNG NGA
Hai người con của quê hương Hà Tĩnh, một TS văn chương, một doanh nhân thành đạt trên đất Nga, vì yêu mến quê hương, vì tự hào với danh nhân đất Việt ở quê nhà đã dày công chuyển thể “Truyện Kiều” của Nguyễn Du sang tiếng Nga.
ĐỊNH MỆNH TẠO NÊN CẦU NỐI
Là một người yêu văn chương Nga từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường, Nguyễn Huy Hoàng từng mơ tới nước Nga (lúc đó là Liên Xô). Xuất thân từ dòng họ Nguyễn Huy nổi tiếng văn chương ở Can Lộc (Hà Tĩnh), rời cấp 3 Nguyễn Huy Hoàng thi đỗ vào khoa văn Đại học Tổng hợp khi đó, rồi được đi làm NCS Văn học Nga tại chính quê hương Puskin. Như một định mệnh, vào năm 1993, trong lúc cả hai vợ chồng mãi mê với luận án tiến sĩ, thì đứa con gái đầu Quỳnh Nga bị thất lạc tại bãi biển Sochi.
Tai họa ấy, đã khiến anh suy nghĩ bạc trắng đầu, rong đuổi khắp nẻo nước Nga rộng lớn tìm con gái. Định mệnh trớ trêu ấy khiến anh phải từ bỏ những dự định dang dở ở quê hương, nương náu lại nước Nga để sống, làm việc, đợi chờ trong hi vọng. Lời tiên đoán của nhà tiên tri Bungary Vanga gieo vào lòng anh hi vọng giúp anh trụ vững đến bây giờ, rằng: đứa bé không chết, anh sẽ gặp lại con gái anh trên chính nước Nga này. Định mệnh ấy cũng đã khiến anh không hẹn mà nên, anh đóng vai là một sứ giả tích cực của nhịp cầu văn hóa Nga - Việt.
Tha hương ở xứ người nhưng lòng luôn đau đáu phía quê hương. Nặng lòng với những di sản văn hóa dân tộc, muốn bạn bè Nga biết đến một hình ảnh người Việt Nam nhân ái, những tác phẩm văn chương đầy tính nhân văn, Nguyễn Huy Hoàng đã có nhiều ấp ủ, trong đó có mong muốn mang tác phẩm văn học vĩ đại, kiệt tác vô song của Việt Nam- "Truyện Kiều" tới công chúng Nga.
BẢN DỊCH CÔNG PHU
![]() |
| Tác phẩm Truyện Kiều bản "tiếng Nga" |
Khởi sự dự án từ năm 2013, mặc dù trước đó, ý tưởng chuyển thể "Truyện Kiều" sang tiếng Nga do chính Nguyễn Huy Hoàng nêu ra từ dịp tổ chức Festival Đại thi hào Nguyễn Du - Puskin tại Hà Tĩnh. Tuy nhiên, do hậu quả của cơn bão năm đó (2010) quá nặng nề nên sự kiện này đành phải hủy bỏ. Trước đó, năm 2012, Nguyễn Huy Hoàng là chủ biên dịch quyển Nhật ký Đặng Thùy Trâm ra tiếng Nga với sự tham gia của hai dịch giả Lê Văn Nhân và Xocolov, với tên gọi “Nhật ký chiến trường của một bác sĩ” tạo nên một tiếng vang lớn đối với công chúng độc giả Nga.
Lần này, dự án chỉ cho phép tiến hành trong hai năm, nên để hoàn thành công việc, cả nhóm gần như chạy đua với thời gian. Để bắt tay vào một công việc vô cùng khó khăn này, nhóm đã có sự chuẩn bị và xác định khá kỹ lưỡng. Từ việc chọn bản Kiều tiếng Việt để dịch, cho đến nguyên tắc triển khai ra tiếng Nga, việc chọn điển tích điển cố để giải thích.
![]() |
| Nhóm dịch giả tại lễ ra mắt tác phẩm "Truyện Kiều" dịch sang tiếng Nga |
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là nhóm dịch phải đối mặt với kho điển tích điển cố đồ sộ (trong "Truyện Kiều" có tới 3236 điển cố, điển tích, thành ngữ, tục ngữ, các cụm từ Hán Việt. Vì thế, nhóm dịch có sự cân nhắc, lựa chọn “Chúng tôi không có kỳ vọng chú thích toàn bộ mà cố gắng diễn giải ngay trong từng câu thơ, giúp các độc giả nắm bắt được ý nghĩa nội dung. Chỉ những điểm thật cần thiết nhất, chúng tôi mới chọn lọc để chú thích, chú giải”, TS.Nguyễn Huy Hoàng cho biết.
Khó khăn là vậy nhưng điều cốt lõi là dự án đã tập hợp được một đội ngũ các nhà dịch thuật có uy tín trong và ngoài nước. TS. Nguyễn Huy Hoàng cho biết thêm: “Với các tác phẩm văn học thông thường, việc dịch thuật chỉ phải vượt qua rào cản ngôn ngữ là chủ yếu; nhưng đối với việc dịch Truyện Kiều, một tác phẩm đặc biệt, phải vượt qua trùng trùng, điệp điệp những kiến thức tổng hợp về ngôn ngữ, thành ngữ, tục ngữ, tiếng địa phương, điển cố và và các danh xưng hơn 200 năm về trước”
Mục đích quan trọng nhất mà nhóm xác định không phải là giải mã, chuyển nghĩa thông thường, mà làm sao để có một bản dịch nghĩa sát với nguyên bản, một bản dịch thơ hoàn chỉnh, chuyển tải được trọn vẹn nội dung “Truyện Kiều” mà không làm mất đi vẻ đẹp của nghệ thuật của tác phẩm nổi tiếng bậc nhất trong văn học Việt Nam.
Tuy nhiên, với một công trình dịch lớn như “Truyện Kiều” đã đi vào tâm thức người yêu văn học Việt Nam và bạn bè thế giới, sự thành công lần này chưa hẳn đã làm nhóm dịch hài lòng, như lời một dịch giả trong nhóm dịch chia sẻ: “Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn bản dịch không thể tránh khỏi những sai sót, chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của các thức giả, hy vọng lần tái bản tới, bản dịch sẽ có chất lượng cao hơn”.
Phạm Thạch Hoàng.
***
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TẠI LỄ RA MĂT TÁC PHẨM "TRUYỆN KIỀU" BẢN TIẾNG NGA"
![]() |
| Nhà thơ Visili Popov, dịch giả bản thơ tiếng Nga "Truyện Kiều" trả lời phỏng vấn báo chí |
![]() |
| Vợ chồng doanh nhân Hoàng Văn Vinh (người con của Quê hương Nghi Xuân, hiện sống tại Nga) - nhà tài trợ của dự án dịch Truyện Kiều sang tiếng Nga |
![]() |
| Nhà thơ, TS.Nguyễn Huy Hoàng- chủ biên dự án |
![]() |
| Lễ ra mắt tác phẩm "Truyện Kiều" bản tiếng Nga tại Hội trường Viện Hàn lâm KHXH |
Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015
YÊU CÙNG GIỌNG NGHỆ (Phạm Thạch Hoàng)
Chi, mô, răng, rứa... lời đầu miệng
Nỏ, hẹ, ê, hầy... tiếng đầu môi
Giọng Nghệ đó, nghe chút nhọc nhằn
Chỉ có người Nghệ mới hiểu nhau cùng tiếng ấy
Giọng Nghệ đó, nghe chút nhọc nhằn
Chỉ có người Nghệ mới hiểu nhau cùng tiếng ấy
*
Buổi quen nhau cứ hỏi hoài điều anh nói
Cứ như hai người đến từ hai thế giới
Bạn bè hỏi sao không đổi giọng
Cho dễ nghe giao tiếp với muôn người
Đôi khi chỉ biết gãi đầu cười
Ngập ngừng lắm, nói sao cho dễ hiểu
Cứ như hai người đến từ hai thế giới
Bạn bè hỏi sao không đổi giọng
Cho dễ nghe giao tiếp với muôn người
Đôi khi chỉ biết gãi đầu cười
Ngập ngừng lắm, nói sao cho dễ hiểu
*
Cái giọng ấy biết mần răng thay đổi
Thuở cha sinh mẹ nở đã ri rồi
Có chăng hỏi đất, hỏi trời
Mần răng lại rứa giọng người quê tôi
Thuở cha sinh mẹ nở đã ri rồi
Có chăng hỏi đất, hỏi trời
Mần răng lại rứa giọng người quê tôi
*
Tiếng quê hương muôn đời đã thế
Một tiếng thân thương bao nốt nhạc lòng
Âm nghe nặng nặng, líu lo như chim
Em thương thì chịu vậy, yêu cùng tiếng anh
Một tiếng thân thương bao nốt nhạc lòng
Âm nghe nặng nặng, líu lo như chim
Em thương thì chịu vậy, yêu cùng tiếng anh
(P.T.H)
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi không hiểu vẫn ấn tượng
Giọng nói đậm chất quê hương nhưng lại gây ấn tượng mạnh với mọi người.
Tác giả bài viết: Dung Nhi.
Nguồn: Báo Đất Việt
Người nặng lòng với quê hương (Đỗ Thanh)
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn- nhà giáo, nhà khoa học, nhà văn hóa lớn- đã được Nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về cụm công trình Lịch sử và Lịch Việt Nam: 1/ Lý Thường Kiệt; 2/ La Sơn Phu Tử; 3/ Lịch và Lịch Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp khoa học, giáo dục của ông đã được nhiều người biết đến. Nhưng tấm lòng của ông đối với Hoàng Sa, một phần máu thịt của Tổ quốc Việt Nam nơi trùng khơi, thì không phải ai cũng biết.
Bui một tấc lòng ưu ái cũ(1)
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, ở làng Yên Hồ, huyện La Sơn, nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, một vùng quê giàu truyền thống cách mạng lâu đời và nổi tiếng hiếu học của cả nước. Ông mất năm 1996 tại Paris.
Từ năm lên 6 tuổi, ông học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại gia đình. Đến năm lên 9, ông học tiếng Pháp ở trường tiểu học tại quê nhà. Sau đấy ông thi đỗ Thành Chung được ra Hà Nội học tại trường Bưởi, rồi chuyển sang học chuyên toán ở trường Trung học Albert Sarraut.
Năm 1928, Hoàng Xuân Hãn đỗ thủ khoa kỳ thi tú tài toàn phần và được nhận học bổng của chính phủ Đông Dương sang Pháp học dự bị để thi vào các trường đại học danh tiếng của Pháp. Ngôi trường đầu tiên mà ông đặt chân tới là trường Polytechnique (Đại học Bách khoa Paris). Bốn năm sau, 1932-1934, ông chuyển sang học ở trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Đại học Cầu đường quốc gia, Paris).
Sau khi tốt nghiêp, ông trở về nước, nhưng khi ấy ở Việt Nam chính quyền thực dân ngăn cản không cho ông làm bất cứ công việc nào trong lĩnh vực chuyên môn dành cho một kỹ sư được đào tạo ở Đại học Pont et Chaussées, nên ông đã tham dự kỳ thi Thạc sĩ (agrégation) về toán. Cũng trong thời gian ấy, khi tham gia chiến dịch xóa mù chữ, ông nghĩ ra một phương pháp sử dụng cùng lúc cả ngữ âm hiện đại và truyền thống truyền miệng của người Việt. Những bài ông viết cho các báo, tạp chí chuyên ngành về toán thời bấy giờ là những hình mẫu về sư phạm. Qua thực hành, ông đã làm rạng rỡ ngôn ngữ tiếng Việt sử dụng trong giáo dục và khoa học, vì thế đã mở ra một con đường cho quá trình Việt hóa giáo dục mà ông sẽ vận dụng với tư cách là Bộ trưởng của chính phủ độc lập đầu tiên.

Trường Đại học Ponts et Chaussées (Cầu đường), một trong những đại học có uy tín hàng đầu của Pháp vừa chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường.
Chỉ trong vòng 2 tháng trên cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông đã thiết lập và ban hành chương trình giáo dục bằng chữ Quốc ngữ ở các trường học. Áp dụng việc học và thi Tú tài bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong những công văn chính thức của ngành. Ông là người soạn thảo và ban hành Chương trình Trung học Việt Nam đầu tiên.
Ngoài các công trình được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý, ông còn có nhiều công trình khoa học, giáo dục mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế rất có giá trị như Danh từ khoa học, Khảo cứu Truyện Kiều, Khảo cứu Chinh phụ ngâm, La Sơn Yên Hồ...
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông (2)
Quần đảo Hoàng Sa là một công trình khảo cứu của giáo sư Hoàng Xuân Hãn, từ năm 1951, thể hiện rõ nét nhất hai khía cạnh của một nhà trí thức lớn. Trước hết, đấy là tấm lòng của một trí thức Việt Nam yêu nước đối chủ quyền quốc gia dù phải sống xa Tổ quốc và một trí tuệ mẫn tiệp, một phong cách tư duy khoa học uyên bác qua cách trình bày vấn đề bằng một thái độ hết sức nghiêm túc, cẩn trọng trong hoạt động khoa học của giáo sư Hoàng Xuân Hãn.
Displaying 1.jpg
Bản đồ đường qua Quảng Nam, theo bản vẽ lại của Domija’s Chúng ta thấy ra rất rõ Bãi Đá nghiêng (Lý Sơn) và Bãi Cát vàng (Hoàng Sa)
Bản đồ đường qua Quảng Nam, theo bản vẽ lại của Domija’s Chúng ta thấy ra rất rõ Bãi Đá nghiêng (Lý Sơn) và Bãi Cát vàng (Hoàng Sa)
Trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, 1975, chuyên san Sử Địa Sài Gòn có in công trình của các tác giả thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau và một thư mục chú giải tổng hợp chuyên khảo cứu về quần đảo Hoàng Sa. Chuyên luận của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn với tiêu đề Quần đảo Hoàng Sa được trang trọng in ngay ở vị trí đầu tiên của chuyên san này. Điều đó thể hiện uy tín khoa học của giáo sư đối với giới trí thức Việt Nam ở trong nước lúc bấy giờ.
Theo quan điểm của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nếu như chỉ đưa ra những sự kiện chứng minh hoạt động của người Việt ở Hoàng Sa thông qua việc khai thác sản vật thì không đủ chứng cứ pháp lý để xác định chủ quyền. Hoặc nếu như chỉ có những hình vẽ về Hoàng Sa trên bản đồ đất nước cũng sẽ chưa đủ để xác định chủ quyền, vì bản đồ, lược đồ hay hải đồ có thể chỉ do một hoặc một nhóm người nào đấy vẽ, nhưng chưa được nhà nước trước đây của Việt Nam công nhận. Cũng vậy, sẽ là không đủ giá trị pháp lý để xác định chủ quyền nếu như chỉ dựa vào sự công nhận của người nước ngoài. Do đó, để xác định chủ quyền thì nhất thiết phải có những bằng chứng pháp lý của Nhà nước Trung ương Việt Nam trước đây khẳng định về việc xác lập chủ quyền trên quần đảo này.
Những bằng chứng ấy, theo Giáo sư đã được Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi lại trong Đại Nam thực lục tiền biên với việc nhà Nguyễn đã có những chính sách thiết lập đơn vị hành chính, dựng miếu, lập bia thờ thần biển ở Hoàng Sa… Đây là những bằng chứng pháp lý quan trọng nhất đầy sức thuyết phục khẳng định những hoạt động mang tính Nhà nước về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa. Quan điểm này đã được giáo sư xem xét cẩn trọng và nghiêm túc chứng tỏ ông là người vừa có trách nhiệm, với tư cách là một công dân Việt Nam đối với chủ quyền quốc gia, ẩn chứa bên trong là tấm lòng của người con đất Việt Hoàng Xuân Hãn đối với đất mẹ Việt Nam.
Vì thế, theo quan điểm của giáo sư trong khảo cứu Quần đảo Hoàng Sa chủ yếu dựa trên nguồn tư liệu chính thống của lịch sử nước nhà qua các tư liệu lịch sử trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn; Đại Nam thực lục tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam nhất thống chí; Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú; sách Đông hành thi thuyết thảo của Lý Văn Phức...(3) Ngoài ra các loại hình tài liệu khác như bản đồ, hải đồ, bản vẽ, lộ đồ… cũng được giáo sư nghiên cứu rất công phu. Ông đã đối chiếu các bản đồ trong Toàn tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư vẽ năm 1741 với tư liệu trong Hồng Đức bản đồ. Trong các bản vẽ ấy đã vẽ địa hình nước ta hồi cuối thời Lê và nhật trình địa đồ Thuận Hóa Quảng Nam được ông sử dụng để đối chiếu với các sách về địa chí của nước ta. Với một phong cách tư duy khoa học, lập luận xác đáng, giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho rằng các bản đồ trước đời Gia Long khẳng định, bãi Tràng sa hoặc bãi Cát vàng (tức Hoàng Sa ngày nay) được coi là phần quan trọng không thể tách rời của đất nước Việt Nam.
Đối với sử liệu trong Phủ biên tạp lục, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã trích dẫn hai đoạn, nói về vị trí địa lý. Theo đó, phía ngoài cù lao Ré có đảo Đại Tràng Sa, nằm ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi. Trước kia, ở đây có nhiều hải vật và hóa vật của tàu bị đắm, nhà Vua đã lập đội Hoàng Sa đến lấy các nguồn lợi như: yến sào, ốc vân, hải ba, hải sâm, đồi mồi…Tiếp đến là những sự kiện lịch sử của Việt Nam gắn liền với Hoàng Sa. Cụ thể nhà Nguyễn đã đặt đội Bắc Hải, thuyền của dân đi khai thác ở Hoàng Sa bị bão đánh giạt vào cảng của Trung Quốc được dân địa phương giúp quay trở về…
Thông tin trong Đại Nam thực lục tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng có sự kiện cuối cùng, đồng thời xuất hiện địa danh Vạn lý Tràng Sa. Tất cả các thông tin ông đưa ra đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, được lồng ghép vào nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên những luận cứ xác đáng về sự có mặt và những hoạt động của người Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa từ lâu đời, khoảng từ thế kỷ XVI. (4)
Tuy nhiên, đến nguồn tài liệu nguyên gốc bằng tiếng Anh và tiếng Pháp của các học giả phương Tây, thì đối với trí thức trong nước không dễ gì tiếp cận được. Bởi lẽ, ngoài vốn kiến thức về ngôn ngữ nước ngoài, không thể không cần đến uy tín khoa học, quan hệ xã hội trong quá trình tìm kiếm và khai thác tư liệu của các học giả phương Tây. Điều kiện thứ nhất có thể nhiều người có, còn hai điều kiện sau, thì không phải ai cũng dễ dàng có được như giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Nguồn tư liệu cuối cùng mà giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặc biệt quan tâm, xem xét kỹ lưỡng, là những ghi chép của các thương nhân, các nhà truyền giáo nước ngoài cách đây hàng thế kỷ khi đến Việt Nam. Trong các ghi chép đó có những nhận xét, đánh giá về quần đảo Hoàng Sa nói riêng và chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này nói chung.
Displaying 2.jpg
Vùng phủ Thăng Hoa - Quảng Nam- và phủ Quảng Ngãi xưa qua mô tả của Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, vẽ năm 1741 (Ảnh tư liệu của Cục TTĐN- Bộ Ngoại giao. vietnam.vnThongtin). Nguồn Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Qua cuốn khảo cứu Quần đảo Hoàng Sa chúng ta thấy Giáo sư Hoàng Xuân Hãn dù khi ở trong nước hay ở nước ngoài cũng đều một lòng một dạ hướng về quê hương đất nước Việt Nam với một thái độ hết sức nghiêm túc, cẩn trọng. Bởi lẽ chính nơi ấy là nguồn cội sản sinh ra những người con ưu tú mang dòng máu Việt Nam. Gần đây vào tháng 8/2011, Chính phủ Pháp đã cho phép đặt tên Hoàng Xuân Hãn cho giảng đường của trường Đại học Cầu đường quốc gia Paris (École Nationale des Ponts et Chaussées) ngay giữa trung tâm thủ đô nước Pháp, nơi ông đã có nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy ở đó để ghi nhận công lao đóng góp và uy tín khoa học của vị giáo sư người Việt với ngôi trường này. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống Trường Cầu đường Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được Nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của Trường.
---------------------
(1) và (2): hai câu thơ trong bài thơ chữ Nôm: Thuật hứng- 5 trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991.
(3) Lý Văn Phức (1785-1849): Danh sĩ đời Gia Long, là một nhà ngoại giao tài giỏi và một nhà thơ nổi tiếng, tự Lân Chi, hiệu là Khắc Trai, quê ở Hà Nội. Năm 1819 đỗ cử nhân, được bổ làm Hàn lâm viện Biên tu ở Quốc sử quán, sau trải qua các chức vụ khác như: Thiêm sự Bộ Lễ, Hiệp lý Trấn vũ, Tham Hiệp trấn Quảng Nam, Hữu Thị lang bộ Hộ. Ông được cử đi sứ nhiều nước. Năm 1830 đi công cán ở Singapore, Philippine và Quảng Đông. Ngoài tài ngoại giao, ông còn là nhà thơ nổi tiếng, để lại nhiều tác phẩm bằng chữ Hán và chữ Nôm cho kho tàng văn học dân tộc, tiêu biểu có các tác phẩm Truyện Tây Sương, Nhị thập tứ hiếu diễn ca… Ông mất năm 1849.
Nguồn: Dư địa chí Thừa Thiên Huế (Bản quyền của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế/ www3.thuathienhue.gov.vn/GeographyBook); Xem thêm: Bách khoa toàn thư mở (vi.wikipedia.org/wiki)
(4) Đại Nam thực lục tiền biên - Quốc sử quán triều Nguyễn. Viện Sử học- Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007
Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015
Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga
(Baohatinh.vn) - Nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du – Danh nhân văn hóa thế giới, chiều 6/11, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức lễ ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga. Dự lễ ra mắt có hơn 500 học giả, nhà nghiên cứu truyện Kiều.
Chính thức ra mắt tác phẩm “Truyện Kiều” bản dịch tiếng Nga
Chiều 6/11, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ra mắt tác phẩm “Truyện Kiều” bản dịch tiếng Nga nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh tác giả - Đại thi hào Nguyễn Du (1766-2016).
Tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng, Chủ biên bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Nga vui mừng coi tác phẩm này là nhịp cầu văn hóa giữa hai nước Việt-Nga.
Đây là niềm vui lớn của giới nghiên cứu văn học Việt Nam, giới nghiên cứu văn học Nga, là mong mỏi của nhiều thế hệ dịch giả tiếng Nga say mê Truyện Kiều và các nhà Việt Nam học nói chung.
Theo tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng, năng lượng của Truyện Kiều để lại vô cùng lớn, giá trị nhân văn mãi mãi đồng hành cùng đất nước Việt Nam. Đến nay, Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng khác nhau và các quốc gia đó cũng sẽ tiếp nhận các giá trị nhân văn của Truyện Kiều.
Đây là một công trình tập thể của nhóm dịch giả Việt-Nga, là những nhà Việt Nam học, Nga học, trong nhiều năm qua đã tham gia các chương trình trao đổi, truyền bá văn hóa Nga-Việt gồm tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng; dịch giả Đoàn Tử Huyến và Vũ Thế Khôi; nhà thơ Nga Vasili Popov, nhà Việt Nam học người Nga, Phó giáo sư Ngôn ngữ học Anatoli Socolov.
Phó giáo sư tiến sỹ Trần Thị An, Trưởng ban Ban Quản lý khoa học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho biết, sau 2 năm nỗ lực thực hiện, tác phẩm Truyện Kiều, với sự đặc định của các mã văn chương trung đại thể hiện ở sự dày đặc các điển tích, điển cố, với nhiều câu thơ mang đậm phong vị thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Đặc biệt, với một nghệ thuật thơ bậc thầy, trong đó phải kể đến nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nhạc điệu, hình ảnh, biểu tượng, đã được nhóm dịch giả chuyển tải sang tiếng Nga.
Nhóm biên dịch không có kỳ vọng chú thích toàn bộ mà cố gắng diễn giải ngay trong từng câu thơ, giúp các độc giả nắm bắt được ý nghĩa nội dung. Nhóm cũng thực hiện việc đánh số các câu thơ trong bản tiếng Nga nhằm giúp người đọc theo dõi nội dung của truyện thơ.
Chủ tịch Hội hữu nghị Nga-Việt, ngài Vladimir Buianov hy vọng không chỉ có Truyện Kiều mà tiếp sau sẽ có nhiều tác phẩm văn học khác của Việt Nam được dịch ra tiếng Nga./.
Minh Nguyệt, http://www.vietnamplus.vn/chinh-thuc-ra-mat-tac-pham-truyen-kieu-ban-dich-tieng-nga/353874.vnp
“Chân, thiện, mỹ” như là thang giá trị văn hóa tinh hoa xứ Nghệ
Tỉnh ta đã có truyền thống và có tiếng là thuần phong mỹ tục. Chúng ta phải phát triển và giữ gìn thuần phong mỹ tục đó (Hồ Chí Minh).
Ngày nay, không ai có thể phủ nhận rằng xứ Nghệ có những nét đặc trưng văn hóa rất riêng. Không phải ngẫu nhiên mà người ngoài tỉnh khi tiếp xúc người Nghệ thì biết ngay là người Nghệ, có thể qua giọng nói, qua diễn ngôn hay có thể qua tính cách. Không phải ngẫu nhiên mà khi nghe đến xứ Nghệ, người ta nghĩ ngay đến một số hình ảnh, một số sáo ngữ, một số con người, một số cảnh vật, một số đặc sản, một số giai thoại… Sở dĩ người ngoài nhận biết được "tính Nghệ" là bởi "tính Nghệ" đã được kết tinh thành những giá trị văn hóa tương đối bền vững, là bởi họ đã tự xây dựng cho mình một bộ tiêu chí lựa chọn, mặc dù họ không chủ ý, mặc dù họ không biết. Bây giờ hỏi họ dựa vào những tiêu chí nào để nhận định đây là người Nghệ, đây không phải người Nghệ, đây là văn hóa Nghệ, đây không phải văn hóa Nghệ thì chưa chắc họ đã trả lời được. Vậy thì đó là những tiêu chí nào? Áp dụng những tiêu chí đó ra sao? Những tiêu chí này sẽ làm sáng tỏ những vấn đề nào liên quan đến văn hóa xứ Nghệ. Đó là những câu hỏi mà chúng tôi sẽ tìm cách giải đáp dựa trên mô hình "Chân, Thiện, Mỹ" và thực tế nghiên cứu văn hóa xứ Nghệ mà chúng tôi tiếp cận được bằng tầm đón của riêng mình.
Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015
Đôi điều về bản Truyện Kiều kỷ niệm 250 năm Nguyễn Du của Hội Kiều học | |
MINH MINH | |
http://honvietquochoc.com.vn/bai-viet/4978-doi-dieu-ve-ban-truyen-kieu-ky-niem-250-nam-nguyen-du-cua-hoi-kieu-hoc.aspx
Để kỷ niệm 250 năm năm sinh đại thi hào Nguyễn Du sắp tới, Hội Kiều học và Nhà xuất bản Trẻ đã cho ra mắt một bảnTruyện Kiều đặc biệt in thật đẹp. Tuy nhiên, từ gần một tháng nay, bản Truyện Kiều này đã gặp phải sự phê phán, sự chê trách của những người yêu Truyện Kiều trong khắp nước. Vì quyển Kiều tốt mã này là kết quả của sự biên tập của nhà xuất bản cộng với cách thức thực hiện một văn bản Truyện Kiều của nhóm những nhà nghiên cứu lấy tên là Ban văn bản Truyện Kiều(1) thuộc Hội Kiều học Việt Nam đã không đáp ứng được lòng chờ đợi mong mỏi của người đọc.
Sự sơ sót của nhà xuất bản, chúng ta có thể thấy ngay ở trang 255. Không biết người ta đã cho đánh vi tính, đã cho sửa morát, đã cho in ấn như thế nào mà câu Kiều 1760 lẽ ra là 8 chữ đã bị xơi mất đi 2 (hai chữ bàn hoàn) chỉ còn lại có 6 chữ.
Về Ban văn bản Truyện Kiều, gồm toàn những vị có kiến thức, nhưng có lẽ vì không làm việc hết công suất của mình nên đã để xảy ra cơ sự đáng buồn. Khi chọn một văn bản Kiều Nôm làm cơ sở, căn cứ vào đấy mà phiên âm, hiệu đính để có được một văn bản Truyện Kiều tốt thì trong con số hàng chục bản Nôm xưa mà các vị ấy đã kể ra trong Lời nói đầu, từ những bản như Liễu Văn Đường, Quan Văn Đường, Thịnh Mỹ Đường cho đến những bản Duy Minh Thị, Lâm Nọa Phu, Kiều Oánh Mậu… các vị ấy đã không chọn lấy một mà lại đi chọn một bản khá xa lạ “căn cứ theo thủ bút được cho là của Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích San”(2). Ba chữ được cho là chứng tỏ là những vị phụ trách công việc phiên âm, hiệu đính để làm ra bản Kiều kỷ niệm 250 năm này cũng chưa dám khẳng định với chính họ rằng, đây là một bản Nôm xưa do chính tay cụ Vị Xuyên Trần Bích San chép lại. Tra cứu, phiên âm, hiệu đính văn bản mà dựa vào một bản Nôm có nguồn gốc đáng ngờ, một bản Nôm trôi nổi là phạm một quy tắc căn bản của ngành văn bản học.
Khi tìm hiểu về công việc phiên âm, công việc hiệu đính của các vị trong Ban văn bản, vì chưa có thời gian để xem lại tất cả 3254 câu Kiều nên muốn phát hiện những chỗ sai trong công việc phiên âm và hiệu đính của Ban văn bản thì còn phải mất công nhiều. Nay chỉ xin nêu ra một vài chỗ gọi là chữ tác đánh chữ tộ của Ban văn bản Truyện Kiều thôi.
Trong câu 1760 “Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây” vì đọc sai luống 𨻫 thành no 𩛂 nên câu thơ bị đổi là “Nỗi lòngno những...”.
Trong câu 638 “Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai” vì đọc sai chữ điệu 調 thành chữ mình𨉓 nên câu thơ hóa thành “Nét buồn như cúc mình gầy như mai”.
Cách phiên âm, cách hiệu đính của Ban văn bản Truyện Kiều của Hội Kiều học Việt Nam như PGS-TS Đoàn Lê Giang đã nhận xét: “được thực hiện khá lạ tai, không phải là những cách phiên âm thông thường như những bản Truyện Kiều xưa nay được đông đảo mọi người yêu thích”. Dĩ nhiên là có thể sửa, chọn… nhưng sửa, chọn phải có lý lẽ đầy đủ.
Do vậy, khi đọc bản Truyện Kiều kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du chúng ta gặp phải những câu thơ khiến chúng ta sửng sốt như: “Om thòm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” (câu 1054). Hai chữ om thòm không đi được với tiếng sóng va đập vào ghềnh đá mặc dù biết đó có thể là chữ của một bản Nôm cổ nào đó. Từ lâu chúng ta đã quen với “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” và muốn bác “thoại” này. Om thòm, có lẽ về sau đã đổi dần dần thành om sòm, chỉ dùng được trong những trường hợp cãi vã, ăn nói to tiếng hoặc như trong câu thơ Kiều 2286 “Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân” thôi.
Hoặc như:
“Đùng đùng gió giục mây Tần” (câu 907). Tại sao lại có mây Tần ở đây nhỉ! Cảnh chiếc xe châu phóng như bay trên dặm đường xa có liên quan gì đến mây Tần!
Hoặc như:
“Mày xanh trăng mới in hằn” (câu 1793). Chữ hằn nghe thô tục quá. Hai câu thơ xinh đẹp như ngọc “Mày xanh trăng mới in ngần/ Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa” mà để cho một chữ hằn lọt vào thật không khác gì một vết sẹo trên khuôn mặt xinh đẹp của nàng Kiều. Lưu ý rằng trong chữ Nôm chữ 痕 có thể đọc ngần, hằn - nhưng ngần mới là chữ “tuyệt diệu”!
Hoặc như:
“Tiểu thư lại nẹt lấy nàng” (câu 1859). Nẹt 𠵋 là một từ cổ. Nhưng bao nhiêu thế hệ người Việt Nam đọc Kiều, yêu quý Kiều đã đọc là thét, thì dùng nẹt phải lý giải sao cho tâm phục khẩu phục.
Chúng tôi cũng muốn nói vài lời về cách chú thích của Ban văn bản Truyện Kiều của Hội Kiều học Việt Nam nhưng đã có PGS-TS Đoàn Lê Giang nói trước chúng tôi rồi với câu lẩy Kiều có phong cách Bút Tre: “Đạm Tiên nàng ấy xưa là… con trai”!
* * *
Sau cùng chúng tôi nghe nói (tuy là nghe nói nhưng là sự thật chứ không phải chuyện bịa, chuyện mơ hồ) có lần vì một lỗi in trong một quyển từ điển mà Nhà xuất bản Larousse bên Pháp đã cho thu hồi tất cả số sách có lỗi để đưa đi tiêu hủy (để giữ chữ “tín”). Không biết NXB Trẻ và Hội Kiều học có định làm như nhà Larousse hay không?
_____
(1) Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, PGS Nguyễn Văn Hoàn, Hoàng Xuân Khóa, Vũ Ngọc Khôi, PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn, GS Trần Đình Sử, nhà thơ Vương Trọng (Ban văn bản Truyện Kiều) biên soạn.
(2) Xem Lời nói đầu của cuốn Truyện Kiều kỷ niệm 250 năm năm sinh đại thi hào Nguyễn Du, NXB Trẻ, 2015.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






