Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

YÊU CÙNG GIỌNG NGHỆ (Phạm Thạch Hoàng)

Chi, mô, răng, rứa... lời đầu miệng
Nỏ, hẹ, ê, hầy... tiếng đầu môi
Giọng Nghệ đó, nghe chút nhọc nhằn
Chỉ có người Nghệ mới hiểu nhau cùng tiếng ấy
*
Buổi quen nhau cứ hỏi hoài điều anh nói
Cứ như hai người đến từ hai thế giới
Bạn bè hỏi sao không đổi giọng
Cho dễ nghe giao tiếp với muôn người
Đôi khi chỉ biết gãi đầu cười
Ngập ngừng lắm, nói sao cho dễ hiểu
*
Cái giọng ấy biết mần răng thay đổi
Thuở cha sinh mẹ nở đã ri rồi
Có chăng hỏi đất, hỏi trời
Mần răng lại rứa giọng người quê tôi
*
Tiếng quê hương muôn đời đã thế
Một tiếng thân thương bao nốt nhạc lòng
Âm nghe nặng nặng, líu lo như chim
Em thương thì chịu vậy, yêu cùng tiếng anh
(P.T.H)

Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi không hiểu vẫn ấn tượng


Giọng nói đậm chất quê hương nhưng lại gây ấn tượng mạnh với mọi người.
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
 
Tác giả bài viết: Dung Nhi
NguồnBáo Đất Việt 



Người nặng lòng với quê hương (Đỗ Thanh)

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn- nhà giáo, nhà khoa học, nhà văn hóa lớn- đã được Nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về cụm công trình Lịch sử và Lịch Việt Nam: 1/ Lý Thường Kiệt; 2/ La Sơn Phu Tử; 3/ Lịch và Lịch Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp khoa học, giáo dục của ông đã được nhiều người biết đến. Nhưng tấm lòng của ông đối với Hoàng Sa, một phần máu thịt của Tổ quốc Việt Nam nơi trùng khơi, thì không phải ai cũng biết.
Bui một tấc lòng ưu ái cũ(1)
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, ở làng Yên Hồ, huyện La Sơn, nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, một vùng quê giàu truyền thống cách mạng lâu đời và nổi tiếng hiếu học của cả nước. Ông mất năm 1996 tại Paris.
Từ năm lên 6 tuổi, ông học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại gia đình. Đến năm lên 9, ông học tiếng Pháp ở trường tiểu học tại quê nhà. Sau đấy ông thi đỗ Thành Chung được ra Hà Nội học tại trường Bưởi, rồi chuyển sang học chuyên toán ở trường Trung học Albert Sarraut.
Năm 1928, Hoàng Xuân Hãn đỗ thủ khoa kỳ thi tú tài toàn phần và được nhận học bổng của chính phủ Đông Dương sang Pháp học dự bị để thi vào các trường đại học danh tiếng của Pháp. Ngôi trường đầu tiên mà ông đặt chân tới là trường Polytechnique (Đại học Bách khoa Paris). Bốn năm sau, 1932-1934, ông chuyển sang học ở trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Đại học Cầu đường quốc gia, Paris).
Sau khi tốt nghiêp, ông trở về nước, nhưng khi ấy ở Việt Nam chính quyền thực dân ngăn cản không cho ông làm bất cứ công việc nào trong lĩnh vực chuyên môn dành cho một kỹ sư được đào tạo ở Đại học Pont et Chaussées, nên ông đã tham dự kỳ thi Thạc sĩ (agrégation) về toán. Cũng trong thời gian ấy, khi tham gia chiến dịch xóa mù chữ, ông nghĩ ra một phương pháp sử dụng cùng lúc cả ngữ âm hiện đại và truyền thống truyền miệng của người Việt. Những bài ông viết cho các báo, tạp chí chuyên ngành về toán thời bấy giờ là những hình mẫu về sư phạm. Qua thực hành, ông đã làm rạng rỡ ngôn ngữ tiếng Việt sử dụng trong giáo dục và khoa học, vì thế đã mở ra một con đường cho quá trình Việt hóa giáo dục mà ông sẽ vận dụng với tư cách là Bộ trưởng của chính phủ độc lập đầu tiên.

Trường Đại học Ponts et Chaussées (Cầu đường), một trong những đại học có uy tín hàng đầu của Pháp vừa chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường.
Chỉ trong vòng 2 tháng trên cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông đã thiết lập và ban hành chương trình giáo dục bằng chữ Quốc ngữ ở các trường học. Áp dụng việc học và thi Tú tài bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong những công văn chính thức của ngành. Ông là người soạn thảo và ban hành Chương trình Trung học Việt Nam đầu tiên.
Ngoài các công trình được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý, ông còn có nhiều công trình khoa học, giáo dục mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế rất có giá trị như Danh từ khoa học, Khảo cứu Truyện Kiều, Khảo cứu Chinh phụ ngâm, La Sơn Yên Hồ...
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông (2)
Quần đảo Hoàng Sa là một công trình khảo cứu của giáo sư Hoàng Xuân Hãn, từ năm 1951, thể hiện rõ nét nhất hai khía cạnh của một nhà trí thức lớn. Trước hết, đấy là tấm lòng của một trí thức Việt Nam yêu nước đối chủ quyền quốc gia dù phải sống xa Tổ quốc và một trí tuệ mẫn tiệp, một phong cách tư duy khoa học uyên bác qua cách trình bày vấn đề bằng một thái độ hết sức nghiêm túc, cẩn trọng trong hoạt động khoa học của giáo sư Hoàng Xuân Hãn.
Displaying 1.jpg
Bản đồ đường qua Quảng Nam, theo bản vẽ lại của Domija’s Chúng ta thấy ra rất rõ Bãi Đá nghiêng (Lý Sơn) và Bãi Cát vàng (Hoàng Sa)
Trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, 1975, chuyên san Sử Địa Sài Gòn có in công trình của các tác giả thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau và một thư mục chú giải tổng hợp chuyên khảo cứu về quần đảo Hoàng Sa. Chuyên luận của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn với tiêu đề Quần đảo Hoàng Sa được trang trọng in ngay ở vị trí đầu tiên của chuyên san này. Điều đó thể hiện uy tín khoa học của giáo sư đối với giới trí thức Việt Nam ở trong nước lúc bấy giờ.
Theo quan điểm của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nếu như chỉ đưa ra những sự kiện chứng minh hoạt động của người Việt ở Hoàng Sa thông qua việc khai thác sản vật thì không đủ chứng cứ pháp lý để xác định chủ quyền. Hoặc nếu như chỉ có những hình vẽ về Hoàng Sa trên bản đồ đất nước cũng sẽ chưa đủ để xác định chủ quyền, vì bản đồ, lược đồ hay hải đồ có thể chỉ do một hoặc một nhóm người nào đấy vẽ, nhưng chưa được nhà nước trước đây của Việt Nam công nhận. Cũng vậy, sẽ là không đủ giá trị pháp lý để xác định chủ quyền nếu như chỉ dựa vào sự công nhận của người nước ngoài. Do đó, để xác định chủ quyền thì nhất thiết phải có những bằng chứng pháp lý của Nhà nước Trung ương Việt Nam trước đây khẳng định về việc xác lập chủ quyền trên quần đảo này.
Những bằng chứng ấy, theo Giáo sư đã được Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi lại trong Đại Nam thực lục tiền biên với việc nhà Nguyễn đã có những chính sách thiết lập đơn vị hành chính, dựng miếu, lập bia thờ thần biển ở Hoàng Sa… Đây là những bằng chứng pháp lý quan trọng nhất đầy sức thuyết phục khẳng định những hoạt động mang tính Nhà nước về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa. Quan điểm này đã được giáo sư xem xét cẩn trọng và nghiêm túc chứng tỏ ông là người vừa có trách nhiệm, với tư cách là một công dân Việt Nam đối với chủ quyền quốc gia, ẩn chứa bên trong là tấm lòng của người con đất Việt Hoàng Xuân Hãn đối với đất mẹ Việt Nam.
Vì thế, theo quan điểm của giáo sư trong khảo cứu Quần đảo Hoàng Sa chủ yếu dựa trên nguồn tư liệu chính thống của lịch sử nước nhà qua các tư liệu lịch sử trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn; Đại Nam thực lục tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam nhất thống chí; Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú; sách Đông hành thi thuyết thảo của Lý Văn Phức...(3) Ngoài ra các loại hình tài liệu khác như bản đồ, hải đồ, bản vẽ, lộ đồ… cũng được giáo sư nghiên cứu rất công phu. Ông đã đối chiếu các bản đồ trong Toàn tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư vẽ năm 1741 với tư liệu trong Hồng Đức bản đồ. Trong các bản vẽ ấy đã vẽ địa hình nước ta hồi cuối thời Lê và nhật trình địa đồ Thuận Hóa Quảng Nam được ông sử dụng để đối chiếu với các sách về địa chí của nước ta. Với một phong cách tư duy khoa học, lập luận xác đáng, giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho rằng các bản đồ trước đời Gia Long khẳng định, bãi Tràng sa hoặc bãi Cát vàng (tức Hoàng Sa ngày nay) được coi là phần quan trọng không thể tách rời của đất nước Việt Nam.
Đối với sử liệu trong Phủ biên tạp lục, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã trích dẫn hai đoạn, nói về vị trí địa lý. Theo đó, phía ngoài cù lao Ré có đảo Đại Tràng Sa, nằm ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi. Trước kia, ở đây có nhiều hải vật và hóa vật của tàu bị đắm, nhà Vua đã lập đội Hoàng Sa đến lấy các nguồn lợi như: yến sào, ốc vân, hải ba, hải sâm, đồi mồi…Tiếp đến là những sự kiện lịch sử của Việt Nam gắn liền với Hoàng Sa. Cụ thể nhà Nguyễn đã đặt đội Bắc Hải, thuyền của dân đi khai thác ở Hoàng Sa bị bão đánh giạt vào cảng của Trung Quốc được dân địa phương giúp quay trở về…
Thông tin trong Đại Nam thực lục tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng có sự kiện cuối cùng, đồng thời xuất hiện địa danh Vạn lý Tràng Sa. Tất cả các thông tin ông đưa ra đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, được lồng ghép vào nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên những luận cứ xác đáng về sự có mặt và những hoạt động của người Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa từ lâu đời, khoảng từ thế kỷ XVI. (4)
Tuy nhiên, đến nguồn tài liệu nguyên gốc bằng tiếng Anh và tiếng Pháp của các học giả phương Tây, thì đối với trí thức trong nước không dễ gì tiếp cận được. Bởi lẽ, ngoài vốn kiến thức về ngôn ngữ nước ngoài, không thể không cần đến uy tín khoa học, quan hệ xã hội trong quá trình tìm kiếm và khai thác tư liệu của các học giả phương Tây. Điều kiện thứ nhất có thể nhiều người có, còn hai điều kiện sau, thì không phải ai cũng dễ dàng có được như giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Nguồn tư liệu cuối cùng mà giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặc biệt quan tâm, xem xét kỹ lưỡng, là những ghi chép của các thương nhân, các nhà truyền giáo nước ngoài cách đây hàng thế kỷ khi đến Việt Nam. Trong các ghi chép đó có những nhận xét, đánh giá về quần đảo Hoàng Sa nói riêng và chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này nói chung.

Displaying 2.jpg
Vùng phủ Thăng Hoa - Quảng Nam- và phủ Quảng Ngãi xưa qua mô tả của Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, vẽ năm 1741 (Ảnh tư liệu của Cục TTĐN- Bộ Ngoại giao. vietnam.vnThongtin). Nguồn Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Qua cuốn khảo cứu Quần đảo Hoàng Sa chúng ta thấy Giáo sư Hoàng Xuân Hãn dù khi ở trong nước hay ở nước ngoài cũng đều một lòng một dạ hướng về quê hương đất nước Việt Nam với một thái độ hết sức nghiêm túc, cẩn trọng. Bởi lẽ chính nơi ấy là nguồn cội sản sinh ra những người con ưu tú mang dòng máu Việt Nam. Gần đây vào tháng 8/2011, Chính phủ Pháp đã cho phép đặt tên Hoàng Xuân Hãn cho giảng đường của trường Đại học Cầu đường quốc gia Paris (École Nationale des Ponts et Chaussées) ngay giữa trung tâm thủ đô nước Pháp, nơi ông đã có nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy ở đó để ghi nhận công lao đóng góp và uy tín khoa học của vị giáo sư người Việt với ngôi trường này. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống Trường Cầu đường Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được Nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của Trường.
---------------------
(1)  (2): hai câu thơ trong bài thơ chữ Nôm: Thuật hứng- 5 trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991.
(3) Lý Văn Phức (1785-1849): Danh sĩ đời Gia Long, là một nhà ngoại giao tài giỏi và một nhà thơ nổi tiếng, tự Lân Chi, hiệu là Khắc Trai, quê ở Hà Nội. Năm 1819 đỗ cử nhân, được bổ làm Hàn lâm viện Biên tu ở Quốc sử quán, sau trải qua các chức vụ khác như: Thiêm sự Bộ Lễ, Hiệp lý Trấn vũ, Tham Hiệp trấn Quảng Nam, Hữu Thị lang bộ Hộ. Ông được cử đi sứ nhiều nước. Năm 1830 đi công cán ở Singapore, Philippine và Quảng Đông. Ngoài tài ngoại giao, ông còn là nhà thơ nổi tiếng, để lại nhiều tác phẩm bằng chữ Hán và chữ Nôm cho kho tàng văn học dân tộc, tiêu biểu có các tác phẩm Truyện Tây Sương, Nhị thập tứ hiếu diễn ca… Ông mất năm 1849.
Nguồn: Dư địa chí Thừa Thiên Huế (Bản quyền của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế/ www3.thuathienhue.gov.vn/GeographyBook); Xem thêm: Bách khoa toàn thư mở (vi.wikipedia.org/wiki)
(4) Đại Nam thực lục tiền biên - Quốc sử quán triều Nguyễn. Viện Sử học- Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga

(Baohatinh.vn) - Nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du – Danh nhân văn hóa thế giới, chiều 6/11, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức lễ ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga. Dự lễ ra mắt có hơn 500 học giả, nhà nghiên cứu truyện Kiều.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Thiện cùng đại diện một số sở, ban, ngành liên quan tỉnh Hà Tĩnh tham dự buổi lễ.
Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga
Tác phẩm Truyện Kiều bản dịch tiếng Nga là công trình tập thể của nhóm dịch giả Việt - Nga (các nhà Việt Nam học, Nga học) trong những năm qua đã tham gia các chương trình trao đổi, truyền bá văn hóa Nga - Việt như: Tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng, dịch giả Đoàn Tử Huyến và Vũ Thế Khôi, nhà thơ Vasili Popov (Nga), nhà Việt Nam học người Nga - PGS Ngôn ngữ học Anatoli Socolov.
Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Thiện: Thay mặt lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh, xin trân trọng cản ơn Ban Tuyên giáo trung ương, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Đai sứ quán Nga tại Việt Nam, nhất là những tình cảm, việc làm tốt đẹp của PTS Nguyễn Huy Hoàng và nhóm dịch giả, nhà tài trợ đã giúp đỡ, tạo điều kiện để hoàn thành, xuất bản tác phẩm truyện Kiều bằng tiếng Nga.
Việc dịch tác phẩm Truyện Kiều sang tiếng Nga do ông Hoàng Văn Vinh - một doanh nhân thành đạt tại Nga quê ở Nghi Xuân (Hà Tĩnh) tài trợ toàn bộ kinh phí. Ông Vinh là Chủ tịch Hội người Việt Nam tại tỉnh Xvedlov - Liên bang Nga, đồng thời là TGĐ Công ty Zolotoi Drakon.
Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga
Tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng: Điều quan trọng nhất không phải là giải mã, chuyển nghĩa thông thường mà là làm sao để có một bản dịch nghĩa sát với nguyên bản, một bản dịch thơ hoàn chỉnh, chuyển tải được trọn vẹn nội dung “Truyện Kiều” mà không làm mất đi vẻ đẹp về nghệ thuật của tác phẩm nổi tiếng bậc nhất trong văn học Việt Nam.
Tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng - đại diện nhóm dịch giả, cho biết: trong quá trình dịch, nhóm dịch giả tuân thủ theo nguyên tắc là tác phẩm được dịch ra văn xuôi và hiệu đính lần thứ nhất, sau khi hiệu đính xong lần thứ hai mới dịch ra thơ. Bản dịch thơ được đối chiếu với bản dịch văn xuôi một cách kỹ lưỡng, thận trọng trên cơ sở trao đổi, góp ý và cuối cùng thống nhất ý kiến.
Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga
Phó Viện trưởng Viện Hàn lâm KHXHNV Việt Nam - Võ Khánh Vinh: Bản dịch Truyện Kiều của các nhóm dịch giả Việt Nam và Nga lần này là một công trình tâm huyết; là nhịp cầu văn hóa giữa Liên bang Nga và Việt Nam, giúp bạn đọc và nhân dân Nga hiểu hơn về đất nước, con người và tâm hồn Việt Nam.
Cũng theo Tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng, điều quan trọng nhất không phải là giải mã, chuyển nghĩa thông thường mà là làm sao để có một bản dịch nghĩa sát với nguyên bản, một bản dịch thơ hoàn chỉnh, chuyển tải được trọn vẹn nội dung “Truyện Kiều” mà không làm mất đi vẻ đẹp về nghệ thuật của tác phẩm nổi tiếng bậc nhất trong văn học Việt Nam.
Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga
Nhà tài trợ Hoàng Văn Vinh chia sẻ tâm tư tại buổi lễ
Đặc biệt, trong “Truyện Kiều” có tới 3.236 điển cố, điển tích, thành ngữ, tục ngữ, các cụm từ Hán Việt nên nhóm biên dịch không kỳ vọng chú thích toàn bộ mà cố gắng diễn giải ngay trong từng câu thơ, giúp các độc giả nắm bắt được ý nghĩa nội dung.
Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga
Nhà thơ Vasili Popov trả lời phỏng vấn báo chí
Bên cạnh đó, nhóm cũng thực hiện việc đánh số các câu thơ trong bản tiếng Nga nhằm giúp người đọc theo dõi nội dung của truyện thơ. Để giúp độc giả Nga các lứa tuổi, tầng lớp xã hội và học vấn khác nhau bước đầu tiếp xúc với tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, trong phần lời nói đầu của cuốn sách được viết khái quát về thân thế, sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Du trong bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII.
Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga
Lãnh đạo Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và tỉnh Hà Tĩnh tặng hoa nhóm dịch giả và nhà tài trợ
Phần tóm tắt "Truyện Kiều" được viết một cách chọn lọc, tương đối chi tiết theo diễn biến của cốt truyện, sau đó là sự phân tích ngắn gọn, làm nổi bật “Truyện Kiều” là tác phẩm mang tính hiện thực và nhân đạo cao cả, một bộ tiểu thuyết bằng thơ được coi là một bộ Bách khoa toàn thư về xã hội Việt Nam trong quá khứ...
Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga
Lãnh đạo tỉnh chụp ảnh lưu niệm với nhóm dịch giả, nhà tài trợ...
Ra mắt tác phẩm Truyện Kiều dịch ra tiếng Nga
… và chụp ảnh với đồng hương Hà Tĩnh tại Hà Nội
Được biết, đến nay, kiệt tác "Truyện Kiều" đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ khác nhau với 35 bản dịch.
Thanh Hoài
http://baohatinh.vn/van-hoc/ra-mat-tac-pham-truyen-kieu-dich-ra-tieng-nga/104254.htm

Chính thức ra mắt tác phẩm “Truyện Kiều” bản dịch tiếng Nga

Tượng Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du tại Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Nguyễn Du. (Ảnh: Báo Ảnh Việt Nam/TTXVN)

Chiều 6/11, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ra mắt tác phẩm “Truyện Kiều” bản dịch tiếng Nga nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh tác giả - Đại thi hào Nguyễn Du (1766-2016).

Tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng, Chủ biên bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Nga vui mừng coi tác phẩm này là nhịp cầu văn hóa giữa hai nước Việt-Nga.

Đây là niềm vui lớn của giới nghiên cứu văn học Việt Nam, giới nghiên cứu văn học Nga, là mong mỏi của nhiều thế hệ dịch giả tiếng Nga say mê Truyện Kiều và các nhà Việt Nam học nói chung.

Theo tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng, năng lượng của Truyện Kiều để lại vô cùng lớn, giá trị nhân văn mãi mãi đồng hành cùng đất nước Việt Nam. Đến nay, Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng khác nhau và các quốc gia đó cũng sẽ tiếp nhận các giá trị nhân văn của Truyện Kiều.

Đây là một công trình tập thể của nhóm dịch giả Việt-Nga, là những nhà Việt Nam học, Nga học, trong nhiều năm qua đã tham gia các chương trình trao đổi, truyền bá văn hóa Nga-Việt gồm tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng; dịch giả Đoàn Tử Huyến và Vũ Thế Khôi; nhà thơ Nga Vasili Popov, nhà Việt Nam học người Nga, Phó giáo sư Ngôn ngữ học Anatoli Socolov.

Phó giáo sư tiến sỹ Trần Thị An, Trưởng ban Ban Quản lý khoa học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho biết, sau 2 năm nỗ lực thực hiện, tác phẩm Truyện Kiều, với sự đặc định của các mã văn chương trung đại thể hiện ở sự dày đặc các điển tích, điển cố, với nhiều câu thơ mang đậm phong vị thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam.

Đặc biệt, với một nghệ thuật thơ bậc thầy, trong đó phải kể đến nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nhạc điệu, hình ảnh, biểu tượng, đã được nhóm dịch giả chuyển tải sang tiếng Nga.

Nhóm biên dịch không có kỳ vọng chú thích toàn bộ mà cố gắng diễn giải ngay trong từng câu thơ, giúp các độc giả nắm bắt được ý nghĩa nội dung. Nhóm cũng thực hiện việc đánh số các câu thơ trong bản tiếng Nga nhằm giúp người đọc theo dõi nội dung của truyện thơ.

Chủ tịch Hội hữu nghị Nga-Việt, ngài Vladimir Buianov hy vọng không chỉ có Truyện Kiều mà tiếp sau sẽ có nhiều tác phẩm văn học khác của Việt Nam được dịch ra tiếng Nga./. 
Minh Nguyệt, http://www.vietnamplus.vn/chinh-thuc-ra-mat-tac-pham-truyen-kieu-ban-dich-tieng-nga/353874.vnp

“Chân, thiện, mỹ” như là thang giá trị văn hóa tinh hoa xứ Nghệ

Tỉnh ta đã có truyền thống và có tiếng là thuần phong mỹ tục. Chúng ta phải phát triển và giữ gìn thuần phong mỹ tục đó (Hồ Chí Minh).

Ngày nay, không ai có thể phủ nhận rằng xứ Nghệ có những nét đặc trưng văn hóa rất riêng. Không phải ngẫu nhiên mà người ngoài tỉnh khi tiếp xúc người Nghệ thì biết ngay là người Nghệ, có thể qua giọng nói, qua diễn ngôn hay có thể qua tính cách. Không phải ngẫu nhiên mà khi nghe đến xứ Nghệ, người ta nghĩ ngay đến một số hình ảnh, một số sáo ngữ, một số con người, một số cảnh vật, một số đặc sản, một số giai thoại… Sở dĩ người ngoài nhận biết được "tính Nghệ" là bởi "tính Nghệ" đã được kết tinh thành những giá trị văn hóa tương đối bền vững, là bởi họ đã tự xây dựng cho mình một bộ tiêu chí lựa chọn, mặc dù họ không chủ ý, mặc dù họ không biết. Bây giờ hỏi họ dựa vào những tiêu chí nào để nhận định đây là người Nghệ, đây không phải người Nghệ, đây là văn hóa Nghệ, đây không phải văn hóa Nghệ thì chưa chắc họ đã trả lời được. Vậy thì đó là những tiêu chí nào? Áp dụng những tiêu chí đó ra sao? Những tiêu chí này sẽ làm sáng tỏ những vấn đề nào liên quan đến văn hóa xứ Nghệ. Đó là những câu hỏi mà chúng tôi sẽ tìm cách giải đáp dựa trên mô hình "Chân, Thiện, Mỹ" và thực tế nghiên cứu văn hóa xứ Nghệ mà chúng tôi tiếp cận được bằng tầm đón của riêng mình.

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Đôi điều về bản Truyện Kiều kỷ niệm 250 năm Nguyễn Du của Hội Kiều học

MINH MINH

Hình ảnh của Đôi điều về bản Truyện Kiều kỷ niệm 250 năm Nguyễn Du của Hội Kiều học
http://honvietquochoc.com.vn/bai-viet/4978-doi-dieu-ve-ban-truyen-kieu-ky-niem-250-nam-nguyen-du-cua-hoi-kieu-hoc.aspx

Để kỷ niệm 250 năm năm sinh đại thi hào Nguyễn Du sắp tới, Hội Kiều học và Nhà xuất bản Trẻ đã cho ra mắt một bảnTruyện Kiều đặc biệt in thật đẹp. Tuy nhiên, từ gần một tháng nay, bản Truyện Kiều này đã gặp phải sự phê phán, sự chê trách của những người yêu Truyện Kiều trong khắp nước. Vì quyển Kiều tốt mã này là kết quả của sự biên tập của nhà xuất bản cộng với cách thức thực hiện một văn bản Truyện Kiều của nhóm những nhà nghiên cứu lấy tên là Ban văn bản Truyện Kiều(1) thuộc Hội Kiều học Việt Nam đã không đáp ứng được lòng chờ đợi mong mỏi của người đọc.
Sự sơ sót của nhà xuất bản, chúng ta có thể thấy ngay ở trang 255. Không biết người ta đã cho đánh vi tính, đã cho sửa morát, đã cho in ấn như thế nào mà câu Kiều 1760 lẽ ra là 8 chữ đã bị xơi mất đi 2 (hai chữ bàn hoàn) chỉ còn lại có 6 chữ.
Về Ban văn bản Truyện Kiều, gồm toàn những vị có kiến thức, nhưng có lẽ vì không làm việc hết công suất của mình nên đã để xảy ra cơ sự đáng buồn. Khi chọn một văn bản Kiều Nôm làm cơ sở, căn cứ vào đấy mà phiên âm, hiệu đính để có được một văn bản Truyện Kiều tốt thì trong con số hàng chục bản Nôm xưa mà các vị ấy đã kể ra trong Lời nói đầu, từ những bản như Liễu Văn Đường, Quan Văn Đường, Thịnh Mỹ Đường cho đến những bản Duy Minh Thị, Lâm Nọa Phu, Kiều Oánh Mậu… các vị ấy đã không chọn lấy một mà lại đi chọn một bản khá xa lạ “căn cứ theo thủ bút được cho là của Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích San”(2). Ba chữ được cho là chứng tỏ là những vị phụ trách công việc phiên âm, hiệu đính để làm ra bản Kiều kỷ niệm 250 năm này cũng chưa dám khẳng định với chính họ rằng, đây là một bản Nôm xưa do chính tay cụ Vị Xuyên Trần Bích San chép lại. Tra cứu, phiên âm, hiệu đính văn bản mà dựa vào một bản Nôm có nguồn gốc đáng ngờ, một bản Nôm trôi nổi là phạm một quy tắc căn bản của ngành văn bản học.
Khi tìm hiểu về công việc phiên âm, công việc hiệu đính của các vị trong Ban văn bản, vì chưa có thời gian để xem lại tất cả 3254 câu Kiều nên muốn phát hiện những chỗ sai trong công việc phiên âm và hiệu đính của Ban văn bản thì còn phải mất công nhiều. Nay chỉ xin nêu ra một vài chỗ gọi là chữ tác đánh chữ tộ của Ban văn bản Truyện Kiều thôi.
Trong câu 1760 “Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây” vì đọc sai luống 𨻫 thành no 𩛂 nên câu thơ bị đổi là “Nỗi lòngno những...”.
Trong câu 638 “Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai” vì đọc sai chữ điệu 調 thành chữ mình𨉓 nên câu thơ hóa thành “Nét buồn như cúc mình gầy như mai”.
Cách phiên âm, cách hiệu đính của Ban văn bản Truyện Kiều của Hội Kiều học Việt Nam như PGS-TS Đoàn Lê Giang đã nhận xét: “được thực hiện khá lạ tai, không phải là những cách phiên âm thông thường như những bản Truyện Kiều xưa nay được đông đảo mọi người yêu thích”. Dĩ nhiên là có thể sửa, chọn… nhưng sửa, chọn phải có lý lẽ đầy đủ.
Do vậy, khi đọc bản Truyện Kiều kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du chúng ta gặp phải những câu thơ khiến chúng ta sửng sốt như: “Om thòm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” (câu 1054). Hai chữ om thòm không đi được với tiếng sóng va đập vào ghềnh đá mặc dù biết đó có thể là chữ của một bản Nôm cổ nào đó. Từ lâu chúng ta đã quen với “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” và muốn bác “thoại” này. Om thòm, có lẽ về sau đã đổi dần dần thành om sòm, chỉ dùng được trong những trường hợp cãi vã, ăn nói to tiếng hoặc như trong câu thơ Kiều 2286 “Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân” thôi.
Hoặc như:
Đùng đùng gió giục mây Tần” (câu 907). Tại sao lại có mây Tần ở đây nhỉ! Cảnh chiếc xe châu phóng như bay trên dặm đường xa có liên quan gì đến mây Tần!
Hoặc như:
Mày xanh trăng mới in hằn” (câu 1793). Chữ hằn nghe thô tục quá. Hai câu thơ xinh đẹp như ngọc “Mày xanh trăng mới in ngần/ Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa” mà để cho một chữ hằn lọt vào thật không khác gì một vết sẹo trên khuôn mặt xinh đẹp của nàng Kiều. Lưu ý rằng trong chữ Nôm chữ 痕 có thể đọc ngầnhằn - nhưng ngần mới là chữ “tuyệt diệu”!
Hoặc như:
Tiểu thư lại nẹt lấy nàng” (câu 1859). Nẹt 𠵋 là một từ cổ. Nhưng bao nhiêu thế hệ người Việt Nam đọc Kiều, yêu quý Kiều đã đọc là thét, thì dùng nẹt phải lý giải sao cho tâm phục khẩu phục.
Chúng tôi cũng muốn nói vài lời về cách chú thích của Ban văn bản Truyện Kiều của Hội Kiều học Việt Nam nhưng đã có PGS-TS Đoàn Lê Giang nói trước chúng tôi rồi với câu lẩy Kiều có phong cách Bút Tre: “Đạm Tiên nàng ấy xưa là… con trai”!
* * *
Sau cùng chúng tôi nghe nói (tuy là nghe nói nhưng là sự thật chứ không phải chuyện bịa, chuyện mơ hồ) có lần vì một lỗi in trong một quyển từ điển mà Nhà xuất bản Larousse bên Pháp đã cho thu hồi tất cả số sách có lỗi để đưa đi tiêu hủy (để giữ chữ “tín”). Không biết NXB Trẻ và Hội Kiều học có định làm như nhà Larousse hay không?

_____
(1) Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, PGS Nguyễn Văn Hoàn, Hoàng Xuân Khóa, Vũ Ngọc Khôi, PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn, GS Trần Đình Sử, nhà thơ Vương Trọng (Ban văn bản Truyện Kiều) biên soạn.
(2) Xem Lời nói đầu của cuốn Truyện Kiều kỷ niệm 250 năm năm sinh đại thi hào Nguyễn Du, NXB Trẻ, 2015.

LẶNG LẼ THÁI KIM ĐỈNH (Đức Ban)


Nhà nghiên cứu văn hóa Thái Kim Đỉnh
Nhà nghiên cứu văn hóa Thái Kim Đỉnh – Ảnh: Nguyễn Đình Toán.
Một dạo, tôi đã ngồi trước trang giấy úa vàng để viết về ông. Lại đến một dạo, tôi ngồi trước màn hình máy tính để viết về ông. Cả hai lần đều thất bại. Ông không hiện ra như tôi mong muốn. Ông không nói về mình, về những công trình, tác phẩm và cả những dự định của ông. Ông ngồi trước tôi như sự hiện diện của một sự im lặng muôn thuở. Mỗi lần ra khỏi nhà ông, tôi lại chỉ mang theo được một gương mặt lặng lẽ, một không khí lặng lẽ và một nỗi buồn lặng lẽ mơ hồ.
Giờ đây, trong ngôi nhà nhỏ bé cạnh con đường mang tên Xuân Diệu, ông ngồi từ sáng đến tối bên cái bàn gỗ, chung quanh là sách – những vui, buồn nhân thế – vây bủa ông, chèn ép ông, ấp iu ông. Một khoảng thời gian quá dài với bao nỗi thăng trầm dâu bể đã đi qua ức triệu trang sách kia và gần một thế kỷ đã đi qua ông.
Thời nào đấy ông làm thơ, loại thơ “Chiều chiến trường mông mênh/ Một ngôi sao đã hiện/ Ngôi sao xanh lấp lánh/ đợi anh đầu làng/ Cỏ mật thơm lừng không gian”. Ông bảo, viết mà cứ thấy ra nhàn nhạt, thấy ra bụng mình nghĩ khác cái điều mình viết. Như thế thì mình không là mình. Như thế thì còn ra cái gì. Ông chuyển sang dịch sách rồi đi sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian. Ông thừa hưởng gia tài tri thức của người bác ruột uyên thâm Nho học và Tây học và cả tính cách lặng lẽ của một ông đồ.

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2015

Thơ Nguyễn Huy Hoàng

Nguyễn Huy Hoàng (1952) là nhà giáo, nhà thơ Việt Nam. Ông quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh. Là Tiến sĩ Ngữ văn. Hiện sống và làm việc tại Matxcơva, Liên Bang Nga. Ông là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. 

Tác phẩm: 
- Ngoảnh lại (thơ), Nxb Văn học, 1995 
- Dư âm (thơ), Nxb Văn học, 1996 
- Phía bên kia trời (thơ), Nxb Văn học, 1999 
- Miền yêu thương (thơ), Nxb Văn học, 2002 
- Đa mang (thơ), Nxb  Văn học, 2005 
- Vẫn còn bao điều tốt đẹp (thơ), Nxb Văn học, 2008 
- Giữa thanh thiên bạch nhật (thơ), Nxb Văn học, 2009 
- Một thời tôi từng có (thơ), Nxb  Văn học, 2012 
- Canh ngọn đèn đợi sáng (thơ), Nxb Văn học, 2013
...
Ngoài ra, ông còn sáng tác văn xuôi, lý luận và phê bình văn học.
Dưới đây là một số bài thơ của Nguyễn Huy Hoàng trong tập thơ: Một thời tôi từng có, Nxb Văn học, Hà Nội, 2012, được ông viết trong những năm tháng của buổi đầu sống với nước Nga và đó chính là tiếng "lòng ông với phận mình" trên đất nước Nga vĩ đại nhưng cũng đong đầy bao biến động.

 LINH CẢM
(Dành cho con gái Quỳnh Nga) 

Đã chớm lạnh cơn mưa đầu tháng Chín 
Gió thay chiều, đổi hướng những rừng cây 
Rồi băng giá sẽ phủ đầy sông vắng 
Con ở đâu trên cõi nước Nga này?

Matxcơva 9-1993 



VIẾT Ở XỨ NGƯỜI

Tuyết cuối mùa. Băng lạnh sắc thuỷ tinh 
Đường heo hút, chiều nay mưa kín lối 
Gió say khướt giữa hàng cây sẫm tối 
Vầng trăng treo trên ngọn bạch dương gầy 

Chiều nay thèm ngọn gió phất phơ bay 
Nhớ nắng ấm hong bờ tre, mái rạ 
Nhớ mùi mật hương nồng hoa cỏ úa 
Vẫn ủ men quen thuộc cuối sân nhà 

Không biết còn ai nhắc kẻ đi xa 
Bữa sum họp mâm cơm ngày giỗ Tết 
Biển may rủi, buông lưới chài hạnh phúc 
Kẻ lỡ chân, gặt hái đã qua mùa 

Trên đất người thấy thiện, ác làm ngơ 
Mọi ngang trái, mọi phũ phàng số mệnh 
Chuyện thường nhật giữa dòng đời bất hạnh 
Trước giàu sang, phú quý hoá dư thừa 

Và cánh buồm đỏ thắm ở trong mơ 
Rủ bóng xuống mồ thời gian oan uống 
Anh chẳng có tấm áo choàng lông ngỗng 
Rải lời thơ gửi gió cuốn theo về



VỚI GOGOL
(Kính dâng hương hồn thầy V. Turbin) 

Thảo nguyên Nga hoang vắng tận chân trời 
Gió vần vũ dọc luống cày se lạnh 
Đi về đâu, hỡi nước Nga bất hạnh 
Xà ích già nới lỏng vạt dây cương? 

Hồn thời gian ngủ trên tháp dát vàng 
Cây thánh giá trầm tư cùng tuế nguyệt 
Tụng niệm mãi kinh nguyện cầu bất lực 
Sóng Nheva mòn mỏi vỗ muôn đời 

Sau bóng cờ, tím tái những lằn roi 
Bụi phủ kín trang thực hư lịch sử 
Lăn chầm chậm bánh cỗ xe quá khứ 
Bài hát xưa biếng nhác tự ru mình 

Con đường mòn không đến được quang vinh 
Cất sao tiếng khải hoàn trong đói khát! 
Đi về đâu? 
Đã âm vang lời đáp: 
- Dân tộc nào cũng sức mạnh nhân dân! 

Khua động chiều hoang lạnh thảo nguyên 
Vó tam mã chồm lên, bờm dậy sóng 
Gió mở lối cuộc hành trình hy vọng 
Phía chân trời kiêu hãnh nước Nga ơi!

Rác đầy phố chẳng ai buồn dọn nữa 
Gió vô tâm cuốn lá xác xơ vàng 
Bên tượng cổ úa tàn hoa cúc dại 
Sếu giăng hàng sải cánh động không gian 

Đã thưa vắng nét cười vô tư lự 
Dòng người đi, nặng trĩu ánh mắt buồn 
Đã hiếm lắm tà áo choàng xanh thắm 
Lướt bên hè, phơ phất tóc mây buông 

Phố choáng lộn thói dư thừa phú hộ 
Của hạng người gặp vận phất lên nhanh 
Bất chợt gặp một cái nhìn sắc lạnh 
Thoáng nghĩ thôi, cũng đã thấy rùng mình! 

Qua tất cả cảnh thanh bình xưa ấy 
Giữa trời quang, giông bão cuộc chuyển vần
Chỉ mùa thu, người tình không lỡ hẹn 
Lại dát vàng trên mái phố trăm năm


MATXCOVA, THU 1993

Rác đầy phố chẳng ai buồn dọn nữa 
Gió vô tâm cuốn lá xác xơ vàng 
Bên tượng cổ úa tàn hoa cúc dại 
Sếu giăng hàng sải cánh động không gian 

Đã thưa vắng nét cười vô tư lự 
Dòng người đi, nặng trĩu ánh mắt buồn 
Đã hiếm lắm tà áo choàng xanh thắm 
Lướt bên hè, phơ phất tóc mây buông 

Phố choáng lộn thói dư thừa phú hộ 
Của hạng người gặp vận phất lên nhanh 
Bất chợt gặp một cái nhìn sắc lạnh 
Thoáng nghĩ thôi, cũng đã thấy rùng mình! 

Qua tất cả cảnh thanh bình xưa ấy 
Giữa trời quang, giông bão cuộc chuyển vần
Chỉ mùa thu, người tình không lỡ hẹn 
Lại dát vàng trên mái phố trăm năm


MAXCOVA BÂY GIỜ ĐÃ KHÁC


Matxcơva bây giờ đã khác! 
Dù tháp thờ vẫn ngự giữa trời cao 
Tuyết vẫn trắng, sông vẫn êm đềm chảy 
Rừng bạch dương muôn thuở vẫn rì rào 

"Matxcơva không tin vào nước mắt" 
Không mơ màng bánh vẽ chín tầng mây 
Đêm choáng lộn phơi trần lưng phố cổ 
Thần tượng chen cùng quảng cáo trưng bày 

Thước đo cũ bỏ đi không dùng nữa 
Điều thiêng liêng, thần tượng đã xưa rồi 
Cả khúc hát cũng lạc bè, sai giọng 
Niềm vinh quang, nay thay mốt, lỗi thời 

Mốt thời thượng phô mình trên phố xá 
Nét vàng son pha lẫn với tân kỳ 
Nơm nớp sống giữa thực hư, thật giả 
Giữa thấp hèn và trang trọng, uy nghi 

Matxcơva - thiên đường cao vòi vọi 
Của lớp người gặp vận, mới phất lên! 
Matxcơva, đáy thẳm sâu cơ cực 
Của những người Nga nhỏ bé, thấp hèn! 

Bao quý ông từng ôm hôn cờ đỏ 
Thấy cảnh ăn xin, giờ chẳng động lòng 
Đám thanh niên kẻ say mê băng nhóm 
Kẻ phớt đời trước mọi cảnh hưng vong 

Vẫn còn lại những người dân chất phác 
Nói chuyện bể dâu chỉ mỗi biết lắc đầu 
Matxcơva bây giờ đã khác 
Những cái nhìn đầy ắp nỗi lo âu

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

Con người Hà Tĩnh nét đẹp thành sen

Anh hỏi em: "Thế em nghĩ thế nào về người Hà Tĩnh?"

- Em ngơ ngác, cũng chẳng biết nói gì, rồi nói những cái dở hơi, 

mà em nghĩ chắc anh cũng chẳng hiều...

Về ngẫm lại, em thấy mình thật ngốc. Hà Tĩnh quê em tuy nghèo, nhưng đó là mảnh đất đã sinh ra biết bao nhiêu con người làm rạng danh cho giang sơn gấm vóc Việt Nam. Hà Tĩnh là nơi em sinh ra, là nơi em lớn lên, và sẽ là nơi em trở về sau tất cả những nhọc nhằn của cuộc sống, là nơi mà em luôn tự hào khi nhắc đến hai chữ "quê hương".


Hà Tĩnh quê em là mảnh đất của gió lào cát trắng, của biển mặn mòi và của những con người chân quê, mộc mạc và giản đơn.

Tôi yêu mảnh đất và con người Hà Tĩnh


Cũng như tất cả các bạn sinh viên Việt Nam, mỗi sinh viên Lào khi quyết định đến Việt Nam học tập ai cũng ôm ấp biết bao ước mơ tươi đẹp, ai cũng đều mong muốn sau này  sẽ có một tương lai tươi sáng, có thể trở về  làm việc và cống hiến cho đất nước.Và trước khi đến Việt Nam, chắc chắn rằng các bạn sinh viên Lào đều đã tìm hiểu về đất nước và con người Việt Nam, tìm hiểu về ngôi trường mình sẽ theo học.